Nghĩa của từ thiếu niên trong Tiếng Việt - thieu nien- Trẻ em ít tuổi hơn thanh niên, vào khoảng từ mười tuổi đến mười lăm, mười sáu tuổi. Đội thiếu niên tiền phong. Tổ chức thiếu niên nhằm mục đích giáo dục ở các nước xã hội chủ Nguyễn Minh Hiếu, Trường Đại học GTVT cho biết, vi phạm giao thông liên quan đến lứa tuổi thanh, thiếu niên thể hiện chủ yếu ở hành vi điều khiển xe máy khi chưa đủ điều kiện (đi xe máy khi chưa đủ 16 tuổi hay đi xe từ 50 phân khối trở lên khi chưa có GPLX vì chưa đủ tuổi thi bằng lái). Tag: Tâm lý học lứa tuổi thcs, [vid_tags] Cảm ơn các bạn đã theo dõi chủ đề Tâm lý học lứa tuổi thcs | Tâm lý thiếu niên từ 11-16 tuổi. Điểm Tốt hy vọng đã giúp được bạn giải đáp được vấn đề, mọi thắc mắc hay bình luận xuống phía dưới. Ở bài này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu sâu hơn về các tác động của việc nghiện game online lên lứa tuổi thanh thiếu niên (13-20 tuổi). Cũng xin lưu ý là tác động của nghiện game không chỉ có tiêu cực mà còn có tích cực, vậy nên chúng ta cần phải cân nhắc đến cả 2 yếu Tuổi dậy thì thường gắn liền với tuổi teen từ 13 - 19 và bắt đầu của sự phát triển tuổi thiếu niên. Tuy nhiên, hiện nay, sự bắt đầu giai đoạn dậy thì đã có một số thay đổi, đặc biệt là nữ có nhiều trường hợp dậy thì sớm. Hoặc tuổi thiếu niên được kéo dài tới sau cả tuổi teen, đặc biệt ở nam. . Vào giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên, trẻ bắt đầu phát triển khả năng tư duy trừu tượng, tư duy logic. Suy nghĩ phức tạp ngày càng tăng này dẫn đến tăng cường nhận thức về bản thân và khả năng phản ánh về cái tôi cá nhân. Do nhiều thay đổi thể chất đáng chú ý của trẻ vị thành niên, sự tự nhận thức này thường chuyển thành ý thức tự giác, kèm theo cảm giác lúng túng. Trẻ vị thành niên cũng có mối bận tâm với vẻ bề ngoài, sức hấp dẫn và nhạy cảm cao đối với sự khác biệt so với bạn đồng trang thiếu niên cũng áp dụng các khả năng phản ánh mới của mình vào các vấn đề đạo đức. Trẻ tiền vị thành niên hiểu đúng và sai là cố định và tuyệt đối. Các trẻ vị thành niên lớn hơn thường đặt câu hỏi về các chuẩn mực về hành vi và có thể phản đối với những quy tắc truyền thống- dẫn đến sự sửng sốt của cha mẹ. Một cách lý tưởng, các phản ánh này đạt đến đỉnh cao của sự phát triển và cá nhân hóa những quy tắc đạo đức của riêng lứa tuổi vị thành niên. Khi trẻ vị thành niên gặp phải việc học tập phức tạp hơn, chúng bắt đầu xác định các lĩnh vực quan tâm cũng như điểm mạnh và điểm yếu tương đối. Vị thành niên là khoảng thời gian mà những người trẻ tuổi bắt đầu xem xét lựa chọn nghề nghiệp, mặc dù hầu hết không có một mục tiêu xác định rõ ràng. Các bậc cha mẹ và bác sỹ lâm sàng phải nhận thức được khả năng của thanh thiếu niên, giúp người trẻ tuổi xây dựng kỳ vọng thực tế và chuẩn bị để xác định những trở ngại đối với việc học tập cần được khắc phục, như khó khăn về học tập Tổng quan về rối loạn học tập Các rối loạn học tập là điều kiện gây ra sự khác biệt giữa hiệu suất học tập tiềm năng và trên thực tế được dự đoán vởi khả năng trí tuệ của trẻ. Các rối loạn học tập liên quan đến các khiếm... đọc thêm , vấn đề chú ý Tăng động/giảm chú ý ADD, ADHD Rối loạn tăng động giảm chú ý ADHD là một hội chứng bao gồm không chú ý, hiếu động thái quá và hấp tấp, bốc đồng. 3 dạng ADHD chủ yếu là giảm chú ý, tăng động/bốc đồng, và kết hợp cả hai dạng... đọc thêm , vấn đề về hành vi Các vấn đề về hành vi ở thanh thiếu niên Thanh niên là lứa tuổi phát triển sự tự lập. Thông thường, thanh thiếu niên thực hiện tính độc lập của mình bằng cách chất vấn hoặc thách thức các quy tắc của cha mẹ hoặc người giám hộ, đôi... đọc thêm , hoặc môi trường học tập không phù hợp. Các bậc cha mẹ và bác sỹ lâm sàng nên tạo điều kiện cho việc học nghề và trải nghiệm khác để cho thanh thiếu niên có cơ hội nghề nghiệp tiềm năng hơn trong thời gian đi học ở trường hoặc trong các kỳ nghỉ học. Những cơ hội này có thể giúp thanh thiếu niên tập trung lựa chọn nghề nghiệp và việc tiếp tục học tập trong tương lai. Trong giai đoạn thanh thiếu niên, các vùng não điều khiển cảm xúc phát triển và trưởng thành. Giai đoạn này được đặc trưng bởi những bộc phát do tự phát mà có là thách thức đối với cha mẹ và giáo viên - những người thường xuyên phải hứng chịu. Thanh thiếu niên dần dần học cách kiềm chế những suy nghĩ và hành động không phù hợp và thay thế chúng bằng những hành vi định hướng có mục cạnh tăng trưởng về cảm xúc được thử nghiệm nhiều nhất, thường xuyên thử thách sự kiên nhẫn của cha mẹ, thầy cô và bác sỹ lâm sàng. Tính không ổn định về cảm xúc là một kết quả trực tiếp của sự phát triển thần kinh trong thời kỳ này, như là phần của não kiểm soát sự trưởng thành cảm xúc. Sự thất vọng cũng có thể nảy sinh từ sự tăng trưởng trong nhiều lĩnh vực. Một xung đột lớn có thể xảy ra giữa mong muốn có thêm tự do của trẻ vị thành niên và bản năng mạnh mẽ của cha mẹ để bảo vệ con cái của họ khỏi những nguy hại. Cha mẹ có thể giúp đỡ trẻ bằng việc nói chuyện với con về vai trò của họ và từ từ cho phép các con của họ được hưởng nhiều đặc quyền hơn cũng như và mong muốn trẻ có trách nhiệm cao hơn với bản thân và gia tiếp trong các gia đình có nhiều định kiến có thể khó khăn và càng khó khăn hơn khi các gia đình bị chia rẽ hoặc cha mẹ có vấn đề về tình cảm của riêng mình. Các bác sĩ lâm sàng sẽ giúp đỡ rất nhiều bằng cách đưa ra cho thanh thiếu niên và phụ huynh những phương án hợp lý, thiết thực, cụ thể, hỗ trợ tạo điều kiện cho giao tiếp trong gia đình. Gia đình là trung tâm của đời sống xã hội cho trẻ em. Trong giai đoạn vị thành niên, nhóm bạn cùng tuổi bắt đầu đặt gia đình như là mối quan tâm xã hội hàng đầu của trẻ. Các nhóm bạn cùng tuổi bạn đồng lứa thường được thiết lập vì có sự khác biệt về trang phục, ngoại hình, thái độ, sở thích, mối quan tâm, và các đặc điểm khác mà có thể có vẻ sâu sắc hoặc bình thường đối với người ngoài. Ban đầu, các nhóm bạn đồng lứa thường là những người cùng giới tính nhưng thường trở nên hỗn hợp sau này ở tuổi vị thành niên. Các nhóm này có vai trò quan trọng đối với thanh thiếu niên bởi vì họ đưa ra sự xác nhận về các lựa chọn dự kiến của thanh thiếu niên và hỗ trợ chúng trong các tình huống căng thiếu niên tự thấy mình không có một nhóm bạn bè thân đồng trang lứa có thể cảm thấy cô lập và khác biệt. Mặc dù những cảm giác này thường không kéo dài, nhưng chúng có thể tăng khả năng xảy ra các hành vi không phù hợp hoặc phản xã hội. Ở thái cực khác, nhóm đồng trang lứa có thể được xem như quá quan trọng, cũng dẫn đến hành vi chống xã hội. Thành viên nhóm Bạo lực trở nên phổ biến hơn khi môi trường gia đình và xã hội không thể làm cân bằng các đòi hỏi không thuộc chức năng của nhóm. Các bác sĩ lâm sàng nên sàng lọc tất cả thanh thiếu niên về các rối loạn sức khỏe tâm thần Tổng quan các rối loạn tâm thần ở trẻ em và vị thành niên Mặc dù đôi khi giả định rằng thời thơ ấu và tuổi vị thành niên là những khoảng thời gian hạnh phúc vô tư, khoảng 20% trẻ em và thanh thiếu niên có một hoặc nhiều những rối loạn tâm thần có thể... đọc thêm , chẳng hạn như trầm cảm Rối loạn trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên Rối loạn trầm cảm được đặc trưng bởi nỗi buồn hoặc khó chịu nghiêm trọng hoặc dai dẳng, đủ để ảnh hưởng đến chức năng hoặc gây ra phiền toái đáng kể. Chẩn đoán dựa vào hỏi bệnh và thăm khám... đọc thêm , rối loạn lưỡng cực Rối loạn lưỡng cực ở trẻ em và thanh thiếu niên Rối loạn lưỡng cực được đặc trưng bởi các giai đoạn hưng cảm, trầm cảm, và tâm trạng bình thường, mỗi lần kéo dài hàng tuần cho đến vài tháng một lần. Chẩn đoán dựa trên các tiêu chí lâm sàng... đọc thêm và lo lắng Tổng quan các rối loạn lo âu ở trẻ em và vị thành niên Các rối loạn lo âu được đặc trưng bởi sự sợ hãi, lo lắng, hay kinh hãi làm suy giảm rất nhiều khả năng hoạt động bình thường và điều đó là không cân xứng với hoàn cảnh hiện tại. Lo âu có thể... đọc thêm . Tỷ lệ mắc rối loạn về sức khoẻ tâm thần tăng lên trong giai đoạn này của cuộc đời và có thể dẫn đến ý tưởng hoặc hành vi tự sát Hành vi tự sát ở trẻ em và thanh thiếu niên Hành vi tự sát bao gồm tự sát đã hoàn thành, cố gắng tự sát với ít nhất một số ý định chết, và hành động tự sát; ý tưởng tự sát là những suy nghĩ và kế hoạch tự sát. Thường được giới thiệu... đọc thêm . Rối loạn tâm thần, chẳng hạn như tâm thần phân liệt Tâm thần phân liệt ở trẻ em và vị thành niên Bệnh tâm thần phân liệt là sự có mặt của các ảo giác và hoang tưởng làm rối loạn chức năng tâm lý xã hội đáng kể và kéo dài ≥ 6 tháng. Xem thêm Tâm thần phân liệt ở người trưởng thành. Khởi... đọc thêm , mặc dù hiếm, thường xuất hiện trong thời kỳ thanh thiếu niên muộn. Rối loạn ăn uống Giới thiệu về rối loạn ăn uống Rối loạn ăn uống bao gồm một rối loạn liên tục về việc ăn uống hoặc hành vi liên quan đến việc ăn uống mà Thay đổi sự tiêu thụ hoặc hấp thu thực phẩm Gây suy giảm đáng kể sức khỏe thể chất và/hoặc... đọc thêm , như là chán ăn tâm thần Chán ăn tâm thần Chán ăn tâm thần được đặc trưng bởi sự theo đuổi không ngừng một cách cực đoan về hình thể mỏng manh, nỗi sợ hãi về bị béo phì, hình ảnh cơ thể bị méo mó, và hạn chế ăn vào so với nhu cầu, dẫn... đọc thêm và ăn vào là nôn ra Ăn vô độ tâm thần Ăn vô độ tâm thần được đặc trưng bởi các giai đoạn cuồng ăn lặp đi lặp lại, theo sau là một số hành vi bù trừ như tự đào thải thức ăn tự gây ra nôn ói, thuốc nhuận tràng hoặc thuốc lợi tiểu... đọc thêm , là khá phổ biến ở các bé gái và có thể khó phát hiện vì thanh thiếu niên trải qua rất nhiều cố gắng để che giấu hành vi và thay đổi cân nặng. Ngoài việc thích ứng với những thay đổi cơ thể, thanh thiếu niên phải trở nên thoải mái với vai trò của người lớn và phải hình dung trước và suy nghĩ thấu đáo sự hấp dẫn về tình dục, có thể rất mạnh mẽ và đôi khi đáng sợ. Giới tính sinh học đề cập đến tình trạng sinh học của một người nam, nữ, hoặc liên lộ giới tính là mục tiêu, biểu hiện công khai về nhân dạng giới và bao gồm tất cả mọi thứ mà mọi người nói và làm để chỉ cho chính họ và cho người khác thấy mức độ mà họ xác định giới tính của số thanh thiếu niên gặp khó khăn với vấn đề xác định tình dục và có thể sợ tiết lộ nhận dạng tình dục hoặc giới tính của họ với bạn bè hoặc thành viên trong gia đình. Thanh thiếu niên có thể cảm thấy không mong muốn hoặc không được chấp nhận bởi gia đình hoặc bạn bè nếu họ thể hiện mong muốn tình dục hoặc bản dạng giới nhất định. Áp lực như vậy đặc biệt là trong thời gian để xã hội chấp nhận là rất quan trọng có thể gây ra căng thẳng nghiêm trọng. Sợ cha mẹ bỏ rơi, đôi khi thực sự, có thể dẫn đến việc giao tiếp không trung thực hoặc ít nhất là giao tiếp không hoàn toàn giữa thanh thiếu niên và cha mẹ họ. Những thanh thiếu niên này cũng có thể bị chế giễu và bắt nạt Bắt nạt Trẻ em và thanh thiếu niên có thể tham gia vào các cuộc đối đầu về thể xác thường xuyên, nhưng hầu hết không phát triển mẫu hành vi bạo lực bền vững hoặc tham gia vào các vụ phạm tội bạo lực... đọc thêm bởi những người bạn đồng trang lứa. Các mối đe dọa về bạo lực thể xác cần được xem xét một cách nghiêm túc và báo cáo cho nhà trường hoặc các cơ quan chức năng khác. Sự phát triển cảm xúc của thanh thiếu niên cần được hỗ trợ tối đa bởi các bác sỹ lâm sàng, bạn bè và thành viên trong gia đình. Bản quyền © 2023 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, USA và các chi nhánh của công ty. Bảo lưu mọi quyền. Từ điển mở Wiktionary Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm Mục lục 1 Tiếng Việt Cách phát âm Danh từ Tham khảo Tiếng Việt[sửa] Cách phát âm[sửa] IPA theo giọng Hà Nội Huế Sài Gòn lɨə˧˥ tuə̰j˧˩˧lɨ̰ə˩˧ tuəj˧˩˨lɨə˧˥ tuəj˨˩˦ Vinh Thanh Chương Hà Tĩnh lɨə˩˩ tuəj˧˩lɨ̰ə˩˧ tuə̰ʔj˧˩ Danh từ[sửa] lứa tuổi Tuổi của những người sinh cùng năm hoặc một thời gian ngắn trước hay sau. Lứa tuổi dậy thì. Lứa tuổi hai mươi lăm đã biết suy nghĩ cân nhắc chín chắn. Tâm lý học lứa tuổi. tâm lý học nghiên cứu sự phát triển tâm lý và những đặc điểm tâm lý của trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau Tham khảo[sửa] "lứa tuổi". Hồ Ngọc Đức, Dự án Từ điển tiếng Việt miễn phí chi tiết Lấy từ “ Thể loại Mục từ tiếng ViệtMục từ tiếng Việt có cách phát âm IPADanh từĐịnh nghĩa mục từ tiếng Việt có ví dụ cách sử dụngDanh từ tiếng Việt 1. Quan niệm về giai đoạn phát triển tâm lý lứa Lứa tuổi là gì?Tâm lý học Mác xít, đại diện là Vưgốtxki quan niệm lứa tuổi là một thời kỳ phát triển tâm lý nhất định của đời người “đóng kín một cách tương đối”, và ở đó những quy luật phát triển chung bao giờ cũng được thể hiện một cách độc đáo về chất. Khi chuyển từ lứa tuổi này sang lứa tuổi khác bao giờ cũng xuất hiện những cấu tạo tâm lý mới chưa từng có trong các thời kỳ trước. Những cấu tạo tâm lý mới này cải tổ lại và làm biến đổi chính tiến trình phát phân chia ranh giới về độ tuổi của một giai đoạn phát triển được “đóng kín một cách tương đối”, như vậy nó có thể xê dịch, có thể sớm hơn hoặc muộn hơn tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Chẳng hạn, tuổi dậy thì của trẻ thời trước thường bắt đầu vào khoảng 13, 14 tuổi, nhưng thời nay thì sớm hơn nghĩa của một giai đoạn lứa tuổi sẽ được quyết định bởi vị trí của thời kỳ đó trong cả quá trình phát triển chung. Chẳng hạn, vị trí tuổi thiếu niên là thời kỳ quá độ từ trẻ em sang người lớn, vậy ý nghĩa của nó trong tiến trình phát triển chung cũng sẽ quan trọng hơn những giai đoạn lứa tuổi Các yếu tố đặc trưng cho lứa tuổiMỗi một giai đoạn lứa tuổi được đặc trưng bởi nhiều yếu tố, đó là những đặc điểm về sinh lý sự phát triển thể chất, sinh lý, đặc điểm xã hội điều kiện sống và các dạng hoạt động, các mối quan hệ cùng những yêu cầu đặt ra cho trẻ trong giai đoạn đó cùng những nét tâm lý đặc trưng về nhận thức, tình cảm, nhân cách,…Mỗi giai đoạn lứa tuổi thể hiện một mức độ phát triển tâm lý độc đáo về chất, được đặc trưng bởi một loạt những thay đổi trong toàn bộ hệ thống cấu trúc nhân cách của con người trong giai đoạn phát triển dụ thanh niên sinh viên có những nét tâm lý đặc trưng sau sự hoàn thiện cái tôi sự tự ý thức, sự hoàn thiện thế giới quan khoa học, khả năng thiết lập các kế hoạch cuộc đời – chuẩn bị nghề nghiệp cho tương lai, khả năng thiết lập cuộc sống độc lập hoàn toàn, khả năng dần dần xâm nhập sâu vào các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống. Những nét tâm lý này khác về chất so với tâm lý của học sinh phổ thông trung Đặc điểm của việc chuyển tiếp các giai đoạn lứa tuổiViệc chuyển tiếp từ giai đoạn lứa tuổi này sang giai đoạn lứa tuổi khác bao giờ cũng gắn liền với các yếu tố sauSự thay đổi tình huống xã hội của sự phát triển Vưgốtxki, Leonchiev,….Tình huống xã hội của sự phát triển theo Vưgốtxki là sự phối hợp đặc biệt giũa các điều kiện phát triển bên trong sự phát triển về thể chất, vốn tri thức, kỹ năng,… và các điều kiện phát triển bên ngoài điều kiện sống và hoạt động, các mối quan hệ,…. Những điều kiện này đặc trưng cho từng giai đoạn lứa tuổi và chúng thúc đẩy sự phát triển tâm lý trong suốt giai đoạn lứa tuổi đó, dẫn tới sự xuất hiện những nét cấu tạo tâm lý vào cuối giai đoạn lứa huống xã hội của sự phát triển đạt đến độ “chín muồi” thường đánh dấu bằng sự thay đổi vị trí của đứa trẻ trong hệ thống các mối quan hệ xã hội của trẻ thì sẽ tạo điều kiện để thúc đẩy trẻ bước sang một giai đoạn phát triển xuất hiện những nét cấu tạo tâm lý mớiCấu tạo tâm lý mới đặc trưng cho lứa tuổi là những nét tâm lý lần đầu tiên xuất hiện ở giai đoạn lứa tuổi đó. Chúng làm thay đổi bộ mặt nhân cách của con người trong giai đoạn ấy và cho ta thấy rõ một sự khác biệt tâm lý về chất so với giai đoạn lứa tuổi huống xã hội của sự phát triển xuất hiện vào thời kỳ đầu của mỗi giai đoạn lứa tuổi. Cuối giai đoạn lứa tuổi sẽ xuất hiện những nét cấu tạo tâm lý mới, trong số đó sẽ có một nét cấu tạo tâm lý mới trung tâm, có ý nghĩa quan trọng hơn cả đối với sự phát triển tâm lý ở giai đoạn lứa tuổi kế dụ “Cảm giác mình là người lớn” ở cuối tuổi thiếu niên sẽ rất có ý nghĩa đối với sự phát triển tâm lý của tuổi đầu thanh niên. Xu hướng nghề nghiệp ở tuổi đầu thanh niên sẽ có ý nghĩa lớn với tuổi giữa thanh quanh cấu tạo tâm lý mới trung tâm sẽ có những cấu tạo tâm lý mới bộ phận khác, gắn liền với các thành tố bộ phận khác trong cấu trúc nhân cách của trẻ. Quá trình hình thành những cấu tạo tâm lý mới ở giai đoạn lứa tuổi này sẽ gắn liền với sự phát triển những cấu tạo tâm lý mới của giai đoạn lứa tuổi trước Vưgổtxki. Gác quá trình tâm lý đang phát triển gắn liền với những nét cấu tạo tâm lý mới đặc trưng được gọi là tuyến trung tâm hạt nhân của sự phát triển, tất cả những quá trình khác được hoàn tất trong giai đoạn lứa tuổi này sẽ là những tuyến phụ vệ tinh của sự phát triển. Tuyến phát triển trung tâm của lứa tuổi này có thể trở thành tuyến phụ của giai đoạn lứa tuổi khác và ngược lại. Như vậy, vị trí và ý nghĩa của chúng luôn thay đổi trong tiến trình phát triển tâm lý cá nhân. Sự thay đổi của hoạt động chủ Leônchiev, hoạt động chủ đạo là “hoạt động quy định những biến đổi trong các quá trình tâm lý và trong các đặc điểm tâm lý của nhân cách đứa trẻ ở trong giai đoạn phát triển của nó”. Còn theo một số nhà Tâm lý học hoạt động khác, “hoạt động chủ đạo là hoạt động luôn gắn liền với những biến đổi chủ yếu nhất trong tâm lý, làm xuất hiện những cấu tạo tâm lý mới trong giai đoạn phát triển của nó”.Như vậy, hoạt động chủ đạo là hoạt động quy định những biến đổi chủ yếu nhất trong tâm lý con người trong giai đoạn phát triển của dụ hoạt động chủ đạo của trẻ sơ sinh – hài nhi là hoạt động giao lưu cảm xúc trực tiếp với người lớn, của trẻ ấu nhi là hoạt động với đồ vật, của trẻ mẫu giáo là hoạt động vui chơi, của nhi đồng là hoạt động học tập,… và của nhà trường thành là hoạt động nghề nghiệp. Nhũng hoạt động này sẽ làm nảy sinh những nét cấu tạo tâm lý mới trong từng giai đoạn lứa tuổi, khiến cho các giai đoạn lứa tuổi khác biệt với nhau về động chủ đạo có một số đặc điểm cơ bản như sau+ Là hoạt động chủ yếu nhất, cơ bản nhất, có ý nghĩa nhất. Hoạt động chủ đạo có thể không phải là hoạt động chiếm nhiều thời gian nhất nhưng là hoạt động chi phối mạnh mẽ toàn bộ cuộc sống của con người và gây ra những biến đổi chủ yếu nhất trong các quá trình tâm lý và nhân cách của con người ở giai đoạn phát triển của nó.+ Làm xuất hiện những cấu tạo tâm lý mới đặc trưng cho lứa tuổi đó. Dưới sự tác động của hoạt động chủ đạo các quá trình tâm lý, các đặc điểm tâm lý chủ yếu nhất sẽ được hình thành hay được cải tổ lại, dẫn đến sự xuất hiện những cấu tạo tâm lý mới đặc trưng cho lứa tuổi.+ Là hoạt động có khả năng chi phối các hoạt động khác diễn ra đồng thời với nó và tạo tiền đề cho sự hình thành một dạng hoạt động chủ đạo mới của lứa tuổi kế tiếp, phát sinh ngay từ trong lòng của hoạt động dụ việc học được xuất hiện lần đầu tiên trong trò chơi của trẻ mẫu giáo khi chơi trẻ đã phải học, sang tuổi nhi đồng hoạt động học tập sẽ trở thành hoạt động chủ hoảng lứa tuổiSự xuất hiện những nét cấu tạo tâm lý mới khiến cho toàn bộ cấu trúc nhân cách được cải tổ lại, dẫn đến sự phát triển tâm lý có tính nhảy vọt, đột biến về chất. Điều đó có thể dẫn đến những sự “khủng hoảng” lứa Tâm lý học lứa tuổi vẫn chưa có sự thống nhất ý kiến về vấn đề khủng hoảng lứa tuổi, vị trí và vai trò của nó trong sự phát triển tâm lý của đứa trẻ. Có nhóm nghiên cứu cho rằng, khủng hoảng lứa tuổi là hiện tượng không bình thường, có dấu hiệu bệnh lý. Số khác lại cho rằng, khủng hoảng trong sự phát triển của trẻ em là quy luật. Trẻ em, không thực sự trải nghiệm khủng hoảng, không thể phát triển toàn diện tiếp hoảng lứa tuổi là thuật ngữ dùng để chỉ các giai đoạn lứa tuổi phát triển đầy biển động xen giữa các giai đoạn ổn định. Đó là giai đoạn lứa tuổi có sự phát triển rất nhanh, mạnh và trong thời gian ngắn lượng đã biến thành Vưgôtxki, sự phát triển tâm lý trong giai đoạn chuyển tiếp từ lứa tuổi này sang lứa tuổi khác có thể diễn ra từ từ, chậm chạp hoặc rất nhanh chóng, đầy biển động, ông chia các giai đoạn phát triển thành hai loại giai đoạn bình ổn và giai đoạn khủng đoạn bình ổn là giai đoạn tương đối dài, sự phát triển tâm lý diễn ra từ từ, không có thành tựu nổi bật, không gây được sự chú ý đối với người xung đoạn khủng hoảng biến động là giai đoạn diễn ra những biến đổi bản chất trong quá trình phát triển tâm lý. Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ lứa tuổi này sang lứa tuổi khác. Giai đoạn này thường diễn ra ngắn, vài tháng, nhưng nếu dưới tác động không tốt của ngoại cảnh có thể kéo dài từ một đến hai năm hoặc lâu hơn nữa và kết quả là trong sự phát triển của trẻ có được những thành tựu nổi bật và có ý hoảng bắt đầu và kết thúc không rõ ràng, nó thường gắn liền với sự thay đổi hành vi ở trẻ. Đặc biệt đó là sự xuất hiện thái độ ương bướng, khó bảo “khó giáo dục”… Các trẻ em trải qua giai đoạn khủng hoảng khác nhau. Có trẻ rất khó khăn, có trẻ rất nhẹ nhàng. Những thay đổi quan trọng nhất diễn ra trong giai đoạn khủng hoảng là những thay đổi bên trong. Đứa trẻ xuất hiện những biểu hiện tiêu cực như mất hứng thú, khó chịu, từ chối những giá trị và các mối quan hệ trước đây… Nhưng cùng với sự triệt tiêu cái cũ sẽ sản sinh ra những cái mới. Những cấu tạo tâm lý mới xuất hiện trong thời kỳ khủng hoảng thường không bền vững, nó sẽ được thay đổi trong giai đoạn bình ổn, và tạo ra những cấu tạo tâm lý mới bền vững giai đoạn khủng hoảng, trẻ em hay gặp hai mâu thuẫn chủ yếu mâu thuẫn giữa những nhu cầu đang lớn dần lên với những hạn chế trong khả năng, mâu thuẫn giữa những nhu cầu mới của trẻ với những môi quan hệ đã hình thành trước đây với người lớn. Những mâu thuẫn này thường được xem như là động lực của sự phát khủng hoảng tiêu biểu ở trẻ em khủng hoảng chào đời, 1 tuổi, 3 tuổi, 7 tuổi, 13 tuổi dậy thì, 17 tuổi đầu thanh niên Vưgốtxki.Khủng hoảng 3 tuổi và khủng hoảng ở tuổi dậy thì gọi là khủng hoảng quan hệ. Khủng hoảng 1 tuổi và khủng hoảng 7 tuổi gọi là khủng hoảng thế giới quan Encônhin.2. Sự phân chia các giai đoạn lứa tuổiKhi phân chia các giai đoạn lứa tuổi các nhà Tâm lý học dựa trên các tiêu chí khác nhau, chẳng hạn như Jean Piaget căn cứ vào sự hình thành và phát triển của các cấu trúc nhận thức và trí tuệ của cá nhân để phân chia thành 4 giai đoạn lứa tuổi ở trẻ em, E. Erikson lại căn cứ vào đặc điểm tâm lý – xã hội của cá nhân để chia làm 8 giai đoạn trong một đời người, S. Freud dựa vào bản năng tình dục để phân chia thành 5 giai nhà Tâm lý học hoạt động cũng có rất nhiều cách phân chia các giai đoạn lứa tuổi khác nhau, nhưng tựu trung lại thì thường căn cứ vào các tiêu chí chủ yếu như tình huống xã hội của sự phát triển, cấu tạo tâm lý mới của lứa tuổi, hoạt động chủ đạo và cả khủng hoảng lứa tuổi để xác định các giai đoạn lứa vậy, có nhiều cách phân chia các giai đoạn lứa tuổi khác nhau. Mọi sự phân chia lứa tuổi cũng chỉ mang tính chất tương đối mà nước ta các nhà Tâm lý học thường phân chia các giai đoạn lứa tuổi dựa theo tiêu chí của các nhà Tâm lý học hoạt động. Dưới đây là các giai đoạn lứa tuổi được thừa nhận rộng rãi ở Việt giai đoạn phát triển tâm lý theo lứa tuổi đoạn thai đoạn sơ sinh – hài nhi 0 – 1 tuổi đoạn vườn trẻ 1 – 3 tuổi4. Giai đoạn mẫu giáo 3-6 tuổi5. Giai đoạn nhi đồng 6-11 tuổi6. Giai đoạn thiếu niên 11-15 tuổi đoạn thanh niên 15 – 25, 28 tuổi. Gồm 3 giai đoạn cụ thể– Giai đoạn đầu thanh niên 15-18 tuổi– Giai đoạn giữa thanh niên 18 – 22, 23 tuổi– Giai đoạn cuối thanh niên 22, 23 – 25, 28 tuổi8. Giai đoạn trưởng thành 25, 28 tuổi – 60 tuổi9. Giai đoạn tuổi già sau 60 tuổi.Mỗi giai đoạn lứa tuổi có một vai trò và vị trí nhất định trong tiến trình phát triển tâm lý cá nhân. Mỗi giai đoạn lứa tuổi cũng có những nét đặc trưng riêng về điều kiện phát triển tâm lý, hoạt động chủ đạo và những nét tâm lý điển hình. Khi xem xét sâu hơn một giai đoạn lứa tuổi nào đó chúng ta phải chú ý đến những điểm cơ bản này. Hai chương tiếp theo chúng ta sẽ xem xét cụ thể những đặc điểm đó ở giai đoạn lứa tuổi thiếu niên và thanh niên học sinh.Theo Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm Tuổi thiếu niên được xác định trong khoảng từ 11 – 15 tuổi. Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi cả về tâm sinh lý và xã hội dẫn đến những biến đổi sâu sắc về mặt tâm lý, nhân cách. Giai đoạn tuổi thiếu niên thường được gắn với những cách gọi như “tuổi bất trị” , ” khủng hoảng tuổi thiếu niên”. Việc nắm được những đặc điểm tâm lý của lứa tuổi này là rất cần thiết để các bậc cha mẹ có cách đối xử tác động tới con phù hợp. Sự phát triển về mặt sinh lý Giai đoạn này cơ thể đang diễn ra quá trình cải tổ hình thái sinh lý một cách mạnh mẽ và mang tính chất không cân đối. Về chiều cao đây là thời kỳ nhẩy vọt về tầm vóc, xương tay chân dài ra nhưng xương ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm. Điều này làm cho hoạt động của trẻ trở nên lóng ngóng vụng về. Về hệ cơ chứa nhiều nước, chưa phát triển hết nên các em chóng mệt và không có khả năng làm việc cao. Ở cuối giai đoạn này, khối lượng cơ và lực cơ phát triển mạnh đặc biệt là ở các em trai. Về hệ xương xương sống và xương tứ chi phát triển mạnh nhưng xương lồng ngực phát triển chậm vì thế làm cho các em có vẻ gầy còm, không cân đối. Về hoạt động tim mạch sự phát triển của hệ thống tim mạch cũng không cân đối. Thể tích của tim tăng rất nhanh, hoạt động của tim mạnh mẽ hơn, nhưng kích thước của mạch máu lại phát triển chậm. Do đó có một số rối loạn tạm thời của hệ tuần hoàn, tăng huyết áp, tim đập nhanh, gây nhức đầu chóng mặt mệt mỏi khi làm việc. Sự trưởng thành về mặt sinh dục đây là yếu tố quan trọng của sự phát triển thể chất, trong giai đoạn này gây nhiều ảnh hưởng đến tâm lý các em. Đặc điểm giới tính bộc lộ rõ nét và tuyến sinh dục bắt đầu hoạt động ở các em nữ xuất hiện hiện tượng kinh nguyệt, ở các em nam xuất hiện hiện tượng xuất tinh lần đầu. Sự dậy thì đã kích thích ở lứa tuổi này mối quan tâm đến người khác giới làm nẩy sinh những rung cảm, xúc cảm giới tính mới lạ. Dậy thì sớm và các biện pháp can thiệp Biểu hiện bất thường về giới trước 10 tuổi đối với bé trai, và trước 9 tuổi đối với bé gái. Những biểu hiện đó thường là + Trẻ gái có tuyến vú, có lông sinh dục và bắt đầu có thể có kinh nguyệt + Trẻ trai cơ bắp phát triển, giọng nói trầm ồm, có ria mép, dương vật dài ra, có lông sinh dục và có thể xuất tinh đôi khi trẻ còn thủ dâm Dậy thì sớm ảnh hưởng lớn đến tâm lý của trẻ tầm vóc bất thường khiến trẻ bị bạn bè trêu chọc, dễ bị các đối tượng xấu lạm dụng tình dục…, khi trưởng thành thường có chiều cao thấp hơn các bạn cùng độ tuổi. Biện pháp can thiệp Muốn điều trị trước hết cần xác định trẻ dậy thì sớm theo thể nào trong hai thể chính Dậy thì sớm thể thực, dậy thì sớm giả để có hướng điều trị phù hợp. Những lời khuyên chung dành cho người lớn kiểm soát các nguồn thông tin trẻ tiếp nhận từ bên ngoài, dạy cho trẻ kỹ năng tự phòng vệ để tránh bị lợi dụng tình dục… Sự phát triển về mặt xã hội Địa vị của các em trong gia đình đã thay đổi, được gia đình thừa nhận là một thành viên tích cực, được giao nhiệm vụ cụ thể, được tham gia bàn bạc một số công việc của gia đình. Ở nhà trường, hoạt động học tập có nhiều thay đổi tác động mạnh đến đời sống tâm lý của các em. Ngoài xã hội lứa tuổi này được thừa nhận như một thành viên tích cực, tham gia hoạt động công tác xã hội. Vì thế mối quan hệ của các em được mở rộng, tầm hiểu biết, kinh nghiệm sống, nhân cách của các em được phát triển phong phú hơn so với các giai đoạn trước. Sự phát triển của các quá trình nhận thức – Tri gác khối lượng tri giác tăng lên, có trình tự, có kế hoạch và hoàn thiện hơn, có khả năng phân tích và tổng hợp phức tạp khi tri giác sự vật và hiện tượng. – Trí nhớ trí nhớ dần dần mang tích chất có điều khiển, điều chỉnh và có tổ chức. – Tư duy đặc điểm nổi bật của hoạt động tư duy là sự thay đổi mối quan hệ giữa tư duy hình tượng sang tư duy trừu tượng, khái quát mà sự chiếm ưu thế của tư duy trừu tượng là đặc điểm cơ bản về hoạt động tư duy ở lứa tuổi phê phán của tư duy cũng được phát triển. Đời sống tình cảm Tình cảm của các em sâu sắc, phong phú, đa dạng và phức tạp hơn ở giai đoạn trước. Tuy nhiên rất dễ xúc động, mang tính bồng bột, dễ bị kích động, vui buồn chuyển hoá nhanh chóng. Trong mối quan hệ với bạn bè xuất hiện tình cảm khác giới, có nguyện vọng được bạn khác giới quan tâm, yêu thích. Tình cảm bắt đầu phục tùng ý chí, tình cảm đạo đức phát triển mạnh, tình cảm bạn bè, tình tập thể, tình đồng chí cũng được phát triển. Xuất phát từ việc coi trọng tình bạn, muốn giao tiếp với bạn cùng tuổi mà ở các em có nguyện vọng được khẳng định vị trí của mình trong tập thể. Các em có khát vọng mạnh mẽ đó là muốn chiếm vị trí được tôn trọng trong nhóm bạn bè cùng tuổi. Nguyện vọng này thể hiển nhu cầu tự khẳng định và có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển tâm lý, nhân cách của thiếu niên. Các em có cảm xúc nặng nề nếu quan hệ với bạn bị tổn thương, mất bạn, sự tẩy chay của bạn bè. Khuynh hướng muốn làm người lớn Khuynh hướng muốn làm người lớn thể hiện về nội dung và hình thức như trong học tập các em muốn độc lập lĩnh hội tri thức, có quan điểm và lập luận riêng. Trong phạm vi ý thức xã hội, các em đòi hỏi mong muốn người lớn quan hệ, đối xử với mình bình đẳng như đối xử với người lớn. Tuy nhiên sự không thay đổi và cách ứng xử giữa người lớn với các em gây ra không ít những xung đột ở lứa tuổi này. Có ý thức rõ rệt về giới tính, quan tâm đến đời sống tình cảm của người lớn vì thế lứa tuổi này thường có tâm lý phóng đại các năng lực của mình, thường đánh giá cao hơn hiện thực, thể hiện dưới dạng bướng bỉnh, tỏ ra bất cần trước những việc làm hàng ngày cũng như những thất bại mà các em trải nghiệm. Sự khủng hoảng trong lứa tuổi thiếu niên Nguyên nhân bên ngoài vị trí xã hội của thiếu niên có sự thay đổi, các em có vị trí trung gian không ổn định giữa người lớn và trẻ em, cùng với việc các em được giao nhiệm vụ nhiều hơn, được người lớn đòi hỏi sự cư xử nghiêm chỉnh hơn. Nguyên nhân bên trong thiếu niên ý thức được sự phát triển của cơ thể theo hướng người lớn, cùng với việc xuất hiện sự rung cảm mới của các em. Sự phát triển nhân cách Các em thường cố gắng bắt chước những mẫu người lý tưởng mà các em tự lựa chọn làm thần tượng của mình. Sự phấn đấu vươn lên theo hình mẫu lý tưởng đó giúp thiếu niên hình thành những phẩm chất ý chí như sức mạnh, lòng dũng cảm, tinh thần vượt khó khăn để đạt mục đích. Tuy nhiên sự ngưỡng mộ, sùng bái các giá trị này không phải lúc nào cũng phát triển theo chiều hướng phù hợp với những giá trị đạo đức xã hội tích cực. Sự phát triển của tự ý thức Sự hình thành tự ý thức ở các em là quá trình diễn ra dần dần. Cơ sở đầu tiên của sự tự ý thức là sự tự đánh giá của người khác, nhất là người lớn. Dần dần các em bắt đầu có khuynh hướng độc lập phân tích và đánh giá nhân cách của mình hơn. Sự hứng thú Hứng thú của thiếu niên phát triển khá mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, thể hiện ở sự quan tâm đến kết quả hoạt động, đến bản chất, ý nghĩa của hoạt động, thể hiện ở thái độ tích cực với hiện tượng khách quan. Tuy nhiên hứng thú các em còn nhiều hạn chế cụ thể như – Do muốn thoả mãn nhiều lĩnh vực nên hứng thú còn tản mạn, chưa ổn định, dễ thay đổi. – Hứng thú chủ yếu thiên về hoạt động thực tiễn có tính chất kỹ thuật đơn giản. – Hứng thú còn mang tính chất bay bổng thiếu thực tế. Vệ sinh tâm lý tuổi thiếu niên Ở lứa tuổi này nhân cách của các em được phát triển một cách mạnh mẽ, tự ý thức đã bắt đầu hình thành các quan niệm về cuộc sống rõ ràng hơn và các quan hệ xã hội bước đầu được mở rộng. Hoạt động chủ đạo của trẻ lúc này là học tập. Các biện pháp vệ sinh tâm lý được đan xen với hoạt động học tập cho trẻ. Cần tránh tạo gánh nặng trí tuệ và tránh thúc ép các em học quá sức, cả về văn hóa, thể thao, âm nhạc, hội họa … Ở cuối lứa tuổi này, trẻ dễ có những khủng hoảng tâm lý đi kèm với những biến đổi mạnh mẽ về sinh lý. Đối với trẻ em gái, nếu không được chuẩn bị chu đáo về tâm lý cho lần thấy kinh nguyệt đầu tiên các em dễ bị những mặc cảm nặng nề, ở trẻ em trai sự phát triển tâm lý giới tính cũng chuyển sang thời kỳ mới. Nếu các em bị những tác động xấu của video đen, phim ảnh đồi trụy… thì rất dễ có những hành vi chống đối xã hội, phi đạo đức. Các biện pháp vệ sinh tâm lý đối với lứa tuổi này gắn liền với công tác giáo dục của nhà trường, sự quan tâm của gia đình và xã hội. Đang tải.... xem toàn văn Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống Thông tin tài liệu Ngày đăng 14/04/2015, 1653 [...]... tùng để thay đổi kiểu quan hệ này 2 Hoạt động giao tiếp của học sinh THCS với bạn bè • Sự giao tiếp của học sinh THCS với bạn bè cùng lứa tuổi rất đa dạng và phức tạp • Tình bạn trong đời sống học sinh THCS thông qua hình thức chuyện trò  Sự giao tiếp ở lứa tuổi học sinh THCS là một hoạt động đặc biệt V Sự phát triển nhân cách của lứa tuổi học sinh THCS 1 SỰ HÌNH THÀNH TỰ Ý THỨC 2 SỰ HÌNH THÀNH TÌNH... triển trí tuệ 1 Đặc điểm của hoạt động học tập • Hoạt động học tập ở lứa tuổi này đạt mức độ cao nhất • Động cơ học tập rất đa dạng, phong phú nhưng chưa bền vững • Thái độ học tập của học sinh THCS rất khác nhau – Có em rất tích cực, có em rất lười biếng – Có em hứng thú rõ rệt, chủ động học tập nhưng có em học tập hoàn toàn do ép buộc 2 Sự phát triển trí tuệ của học sinh THCS • Tính chất Thay đổi  hoạt... giác trở nên có kế hoạch, có tư duy và có trình tự hơn • Trí nhớ cũng được thay đổi về chất • Sự phát triển chú ý của học sinh THCS diễn ra rất phức tạp • Hoạt động tư duy cũng có những biến đổi cơ bản IV Hoạt động giao tiếp của lứa tuổi học sinh THCS 1 Sự hình thành kiểu quan hệ mới • Học sinh THCS có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn Chúng mong muốn được bình đẳng như người lớn • Ở giai đoạn này... chỉ tạm thời, khoảng 15 tuổi trở lên hiện tượng này cân đối hơn Dậy thì • Là một hiện tượng bình thường, diễn ra theo quy luật sinh học và chịu ảnh hưởng của môi trường tự nhiên và xã hội • Gồm 2 giai đoạn – Tiền dậy thì nữ 11- 13 tuổi – Dậy thì chính thức nữ 13- 15 tuổi • Nam thường dậy thì chậm hơn nữ 1- 2 năm  XH phát triển, có hiện tượng gia tốc phát triển của tuổi dậy thì Trẻ em dậy...• - Ở tuổi thiếu niên, quá trình hưng phấn chiếm ưu thế rõ rệt, dẫn đến thiếu niên không làm chủ được cảm xúc của mình, không kiềm chế được xúc động mạnh Các em dễ bị kích động, dễ bực tức, cáu gắt, mất bình tĩnh… -Ở tuổi thiếu niên, phản xạ có điều kiện đối với những tính hiệu trực tiếp được hình thành nhanh hơn... chưa hệ thống, chưa có kế hoạch • Người làm công tác giáo dục cần tổ chức hoạt động và tổ chức mối quan hệ qua lại của mọi người với thiếu niên cho tốt 2 Sự hình thành tình cảm • Đặc điểm – Sâu sắc và phức tạp hơn so với lứa tuổi tiểu học – Tình cảm bắt đầu biết phục tùng lý trí – Tình cảm đạo đức phát triển mạnh, tình bạn bè, tình đồng chí, tình yêu tổ quốc • Tuy nhiên tình cảm vẫn còn bồng bột và sôi... nguy cơ cần thiết phải giáo dục giới tính 2 Sự thay đổi về điều kiện sống • Gia đình Địa vị của các em trong gia đình có sự thay đổi các em được tham gia vào công việc gia đình, được giao nhiệm vụ • Nhà trường Bắt đầu thay đổi nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức học tập • Xã hội Các em được công nhận như một thành viên tích cực và được giao phó một số công việc nhất định III Hoạt động học. .. dung • Không nhận thức toàn bộ những phẩm chất nhân cách cùng một lúc – Nhận thức hành vi của mình nói chung – Nhận thức phẩm chất đạo đức, hành vi của mình trong phạm vi cụ thể • • • • PC liên quan đến học tập PC thể hiện thái độ đối với người khác PC thể hiện thái độ đối với bản thân mình PC thể hiện mối quan hệ nhiều mặt của nhân cách Về cách thức • Ban đầu đánh giá bị ảnh hưởng bởi những người . phẫu sinh lý ở lứa tuổi học sinh THCS Sự phát triển mạnh mẽ không đồng đều • Lứa tuổi học sinh THCS 11- 12 tuổi đến 14- 15 tuổi Những điều kiện phát triển tâm lý ở lứa tuổi học sinh. CHƯƠNG III I. Vị trí, ý nghĩa của lứa tuổi thiếu niên trong quá trình phát triển tâm lý trẻ II. Điều kiện phát triển tâm lý ở lứa tuổi học sinh THCS III. Hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ IV của lứa tuổi học sinh THCS IV 2. Hoạt động giao tiếp của học sinh THCS với bạn bè • Sự giao tiếp của học sinh THCS với bạn bè cùng lứa tuổi rất đa dạng và phức tạp • Tình bạn trong đời sống học - Xem thêm -Xem thêm TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ LỨA TUỔI THIẾU NIÊN, TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ LỨA TUỔI THIẾU NIÊN, Từ khóa liên quan tâm lý học cổ đại câu hỏi trắc nghiệm tâm lý học có đáp án trắc nghiệm môn tâm lý học có đáp án giáo dục truyền thống cách mạng địa phương cho học sinh trung gọc cơ sở trắc nghiệm tâm lý học có đáp án sách tâm lý học cơ bản tâm lý học cơ bản ebook tâm lý học cơ bản de thi trac nghiem tam ly hoc co dap an đề thi khảo sát chất lượng đầu năm lớp 9 môn ngữ văn trường trung học cơ sở nguyễn gia thiều tâm lý lứa tuổi học sinh trung học cơ sở tam ly hoc lua tuoi hoc sinh trung hoc pho thong tâm lý học lứa tuổi của học sinh trung học phổ thông tâm lý học lứa tuổi học sinh trung học phổ thông thpt tim hieu dac diem tam ly lua tuoi hoc sinh trung hoc co so hệ việt nam nhật bản và sức hấp dẫn của tiếng nhật tại việt nam xác định các nguyên tắc biên soạn tiến hành xây dựng chương trình đào tạo dành cho đối tượng không chuyên ngữ tại việt nam điều tra đối với đối tượng giảng viên và đối tượng quản lí khảo sát thực tế giảng dạy tiếng nhật không chuyên ngữ tại việt nam khảo sát các chương trình đào tạo theo những bộ giáo trình tiêu biểu mở máy động cơ rôto dây quấn hệ số công suất cosp fi p2 động cơ điện không đồng bộ một pha chỉ tiêu chất lượng theo chất lượng phẩm chất sản phẩm khô từ gạo của bộ y tế năm 2008

lứa tuổi thiếu niên